Chữ đạo đối với Đức Thánh Trần

Đạo Làm Người

Có thể thấy rằng từ trước đến nay, chúng ta tu theo đạo Phật là mưu cầu giải thoát, để vượt lên tất cả mọi người, trở thành những bậc Tiên, Thánh. Chúng ta không ngờ rằng trong đạo Phật đã có sẵn hệ thống  đạo làm người rất lớn. Và chính nhờ đạo làm người này mà các bậc Tiền Bối mới có thể trở thành Tiên, thành Thánh được. Ở trong cuộc sống, mỗi người chúng ta đều có một vai trò khác nhau, số phận khác nhau. Có người cao sang quyền quý, có người trung lưu nhàn nhã, có người nghèo khổ khốn cùng. Tuy nhiên dù ở vị trí nào, số phận nào thì chúng ta cũng đều là người mà thôi, ngay khi đã là một tu sĩ xuất gia đi tìm sự giải thoát, chúng ta vẫn là con người. Nào Tiên, nào Phật, nào Thánh họ đều là những người “ sinh vi lượng tử vi thần “ ( sống làm tướng thác lại hoá thần, hiển thánh ), như Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh Công Chúa, Tản Viên Sơn Thánh, Đức Thánh Cao Sơn, Phật Hoàng Trần Nhân Tông, đặc biệt chúng ta có vị thánh tướng, một vị anh hùng đại nhân, đại nghĩa, đại trí, đại dung.  Một vị thánh trong lòng  nhân dân.

Vì vậy, chúng ta phải làm người thật tốt và phải biết thực hiện đạo làm người. Cần phải hoàn thiện bản thân, tu dưỡng đạo đức nơi chính mình, cần phải có trách nhiệm với những người chung quanh, có bổn phận đem được sự an vui, hạnh phúc đến cho tất cả mọi người. Trong suốt những năm tháng chúng ta tu theo Phật ,Tiên, Thánh để giải thoát, chúng ta quên đi bổn phận làm người trong cuộc sống và đối với những người chung quanh. Nhưng thật ra chính nơi thân phận làm người này, chúng ta thực hiện hoàn hảo đạo làm người, thương yêu và giúp đỡ những người xung quanh, chúng ta sẽ trở nên một người tuyệt vời, một vị Tiên, Thánh hay một vị Phật sống . Vị trí của bậc Thánh không phải là từ bỏ thân phận làm người; đi tìm một giấc mơ hão huyền, một giá trị cao xa nào khác, mà vị trí của Thánh bắt đầu từ thân phận con người. Tuy nhiên làm thế nào để thực hiện đạo làm người, trở thành người tốt, người tuyệt vời? Câu trả lời tưởng đơn giản nhưng lại rất khó thực hiện: Đó là người phải biết thanh lọc nội tâm, biết kiểm soát tâm và đánh giá chính bản thân mình. Là người luôn biết tự trách mình, tìm lỗi chính mình để sửa sai. Là người xem xét hành vi của mình từng chút một; điều bất thiện dù rất nhỏ cũng tránh, điều thiện dù khó khăn đến thế nào cũng không từ nan, và hiểu rõ ranh giới giữa điều xấu và điều tốt. Đó là người đối với mọi người phải luôn khoan dung, tử tế một cách sâu sắc, và luôn e ngại sẽ làm người khác bị tổn thương. Tử tế sâu sắc có nghĩa là hiểu thấu, thông cảm và chia sẻ được những nỗi đau của người khác. Đó là người phải biết độ lượng, yêu thương con người mà không so đo hơn thiệt. Dù làm rất nhiều việc thiện, trong lòng không hề có chút ý nghĩ mưu cầu danh lợi phúc đáp.

Chấp nhận những thiệt thòi bản thân để giữ vững đạo lý làm người, trong đó gồm: “Tam tòng tứ đức

Tam tòng gồm : “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.

Tứ đức gồm: “Công, Dung, Ngôn, Hạnh”

Điển hình cho đạo lý này là công chúa Liễu Hạnh, cùng với “Tam cương ngũ thường” Mà điển hình cho tư duy này chính là “Trần Triều cửu thiên vũ đế Hưng Đạo Đại Vương”.

Tam cương: tam là ba, cương là giềng mối . Tam cương tức là ba mối quan hệ : Quân Thần (vua tôi), Phụ Tử (cha con), Phu Phụ (vợ chồng).

Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” (Dù vua có bảo thần chết đi nữa thì thần cũng phải tuân lệnh, nếu ko tuân lệnh thì xem như không trung với vua).

Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” (Cha bảo con chết, con không chết thì con không có hiếu).

Phu xướng phụ tùy” (Chồng nói ra, vợ phải theo).

Ngũ Thường: ngũ là năm, thường là hằng có, ngũ thường là năm điều hằng có của đạo làm người là “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín.”

Ngày nay chúng ta có thể hiểu đó là bổn phận của công dân đối với đất nước. Đạo Nhân là đạo của người trên đối với kẻ dưới. Hơn nữa, ngoài những vấn đề đã nêu trên, chúng ta cũng cần hiểu thêm việc giúp đỡ cho những người nghèo khổ, chúng ta không nên chỉ giúp họ bằng vật chất mà cả bằng tinh thần. Chúng ta biết tu dưỡng giá trị tinh thần, tu dưỡng đạo lý Tâm Linh. Cho nên khi chúng ta đem lợi ích vật chất đến cho mọi người, chúng ta cần đem theo lợi ích tinh thần, đó là giá trị cao cả trong đời sống con người. Đến với đạo Thánh là chúng ta đi tìm con đường giác ngộ của bậc Tiên, Phật và chúng ta hiểu rằng con đường này bắt đầu bằng đạo làm người.

Khi chúng ta tu tập thật tốt, thật hoàn hảo, chúng ta sẽ trở thành Tiên, thành Phật và có thể thành những con người tuyệt vời, những con người thánh thiện trong đạo làm người. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta dạy đức rất nhiều thông qua các tiết luân lý nhưng lại ít nhắc đến chữ đạo. Và một điều tai hại là người ta đưa ra khái niệm rằng người có đạo là người hay đi Lễ, và cho rằng người hay đi Lễ được xếp vào dạng kém hiểu biết. Theo quan điểm của những nhà Nghiên cứu Văn hóa Tâm linh chân chính thì người có đạo thường là người có văn hoá. Nhưng hiện nay chúng ta lại đang nhầm lẫn giữa tri thức với văn hoá. Người có tri thức bây giờ thì đông nhưng người có văn hoá vẫn còn hơi ít. Vì vậy phải làm sao lượng người có văn hoá ngày càng tăng lên tức là người có đạo sẽ tăng lên thông qua việc học hỏi những gì mà cổ nhân đã để lại cho chúng ta. Tôi có đọc được một lời giáo huấn của ĐứcThánh Trần trên một tư liệu với lời văn thống thiết như sau: “Ở thời buổi ngày nay, không phải vì chiến tranh khốc liệt, không phải thiên vạn binh hùng, không phải vì quỉ ma sống dậy, bày vẽ lắm trò, làm cho lu mờ chánh pháp, mà chính là ở sự sụp đổ tinh thần, sự sụp đổ tinh thần ấy là điều tai hại căn bản. Các hiền thử nghĩ: Khi muốn phục hưng một quốc gia, điều trước hết phải có dân chí, dân khí, dân tâm. Nếu dân chí đã nhụt, dân khí đã suy, dân tâm ly tán, hạng sĩ phu triều đại thì tranh nhau chút lợi danh cho riêng mình, còn quần chúng khắp nơi như đàn chiên không người chăn giữ, trước tình trạng đó làm sao phục hưng đại Đạo!

Hôm nay Bản Thánh rất buồn. Buồn cho sứ mạng trọng đại của Đại Đạo. Phục hưng tinh thần truyền thống cổ truyền của dân tộc dính liền với sự phục hưng văn minh nhân loại, để xây dựng một nguơn hội thái bình vĩnh cửu cho muôn người, tạo lập một Thiên đàng cực lạc tại thế. Sứ mạng đó ai đảm trách?

Hỡi chư chức sắc hướng đạo! Đọc lại sử nhà Trần, từ bao ảm đạm thê lương, bỗng trở nên bao hùng tráng mãnh liệt. Phải chăng nhờ biết tạo cái thế nhơn hòa đoàn kết, qui tụ được nhân tâm, tác động được dân khí để mở màn cho công cuộc phục hưng. Ngày nay muốn tạo được cái thế nhơn hòa đoàn kết ấy, thì người lớn phải tỏ ra đức độ, phải chịu hy sinh; hy sinh cái ý kiến tư hữu của mình cũng là điều quan trọng không kém sự hy sinh tính mệnh. Hy sinh vì sự sống còn của kẻ dưới, hy sinh vì mọi người, hy sinh vì chính nghĩa cao cả như sự bảo tồn xương minh chơn truyền đạo pháp chẳng hạn, Bậc hướng đạo phải đạt được cái lý ấy, phải bác kiến quảng văn, phải ôn cố tri tân, phải thường xuyên khắc kỷ phục lễ, phải rèn luyện thân tâm, để nêu gương sáng cho mọi người, phải nung nấu lòng tin tưởng cho mọi người, bởi lòng tin là sức mạnh vô biên. Mất lòng tin khác nào một đạo binh mất người tướng xúy vậy.”[1]

Quả thật ta thấy lời văn thống thiết, giọng văn bi hùng như thôi thúc chúng ta hãy theo lời giáo huấn của Đức Thánh mà khôi phục đại Đạo. Muốn khôi phục đại đạo thì trước tiên ta phải học cái “Đạo Làm Người”cái cốt lõi của Đạo làm người là “Tu”, vậy tu là gì? Tu là sửa đổi chính mình chho từ một “phàm phu tục tử” nên người, tu cho cái tâm, cái đức suốt đời thênh thang. Tu là cả đời, cả kiếp làm người, tu cho đất nước nở hoa muôn đời.

Quan điểm ngũ thường của Đức Thánh Trần

Trong quyển “Biên kinh hoằng đạo” viết: “Hưng Đạo Vương nhà Trần thượng thừa lệnh này giáng Hoàng đạo kinh biên. Đó là cái nghĩa của Càn Khôn. Mọi người lấy làm khuôn phép, mở rộng ra thành đạo làm con, làm vợ, làm chồng, làm anh, làm em, làm bạn. Trời có nói gì đâu mà Đạo ở lưỡng gian, tản ra, ở nhật dụng hàng ngày, tụ lại ở lê dân trăm họ. Theo mà không biết, mở rộng ra mà hành và tồn tại trong con người”.[2] Nhà Trần mở vận. Quảng hành Tam giáo. Đối với Phật giáo đặc biệt tôn sùng. Yên Tử Giác hoàng Điều ngự là Tổ đệ nhất Trúc Lâm. Ngàn năm sau còn khiến người đời noi theo phong cách cao quý. Đời suy, thế giảm, nhân tâm suy vi đều do nhiễm tật xấu xa. Sống lấy Đạo làm trách nhiệm. Chết thì hiển linh vì Đạo linh ở trên Trời.

Biên kinh hoàng đạo là một văn phẩm giáng bút với nội dung chính là bàn về Ngũ thường: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Trần Hưng Đạo bàn trước, sau đó là các vị văn võ có tên tuổi của triều Trần bàn sau. Tôi xin trích tóm tắt giáng bút của Trần Hưng Đạo bàn về năm chữ trên như sau.

–  Luận về chữ Nhân: “Nhân là đức của Tâm. Là lý của yêu thương. Thành thực thì nhân vượng. Một chút tâm linh có thể khắp vạn biến. Thông tam giới. Lấy Nhân giữ Tâm. Nếu làm việc bất nhân, bất hiếu, bất trung thì đó là làm tuyệt lẽ Trời. Làm chết Nhân Tâm. Ranh giới của Trời, Người cốt yếu là Thiện- Ác. Sự tách biệt giữa người và cầm thú chẳng đáng sợ sao?… Nhân chẳng có gì lớn hơn là yêu cha mẹ. Con người ta không ai là không có đức Nhân… Người muốn có Nhân phải kiêm Nghĩa, Lễ, Trí, Tín…”[3]

–  Luận về chữ Lễ:“Lễ là cái Đẹp của lẽ Trời. Là phép tắc, nghi thức của con người khi hành xử. Để hợp thời, hợp người, nếu không dùng Lễ tiết chế, thì danh bất chính, chí bất định… Làm quan không biết Lễ chỉ nghĩ đến lợi nhuận cá nhân. Ruộng công, đất công, chia không bình đẳng, lấn của dân, thành kiện tụng. Tham lam biển lận, phạm tới luật chung, tự lao vào ngục. Vì vậy mà lẽ Trời mất đi. Nhân sự bại hoại. Lễ giáo suy vi. Còn gì tệ hơn? Người không biết Lễ thì Đạo cha con, vua tôi, anh em, bạn bè cũng theo đó mà suy vi. Người bất nhân, bất nghĩa, bất trí, bất tín thì việc xấu nào mà chẳng dám làm…”.[4]

–  Luận về chữ Nghĩa:Nhân tính của con người ở Nghĩa. Nghĩa là cái chuẩn để tiết chế tất cả mọi việc trong tâm con người… Quan hệ cư xử của một con người: quân, thần, phụ, tử, phu thê, bằng hữu đều cần Nghĩa. Phàm gặp các rắc rối trong mọi mối quan hệ đó đều lấy Nghĩa mà tiết chế nó. Mọi cư xử đã hợp với Nghĩa thì Ngũ luân: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín đều vẹn toàn.”[5]

–  Luận về chữ Trí:Đạo do Trí mà vào… Kẻ biết Trời, biết Người thì có thể làm con, có thể làm tôi. Kẻ vô Trí, mắt mờ vì bị vật dục che lấp, tham của, tham ăn, sa vào phong khiên cấm giới (múa may quay cuồng trong nhà; chết vì của cải, sắc đẹp; nói lời xúc phạm đến Thánh; làm ngược điều trung; xa rời với đức…). Có đại trí tuệ, có đại kiến thức. Sự nghiệp hiển vinh. Biết thiên hạ thì không dám làm điều sai trái…”.[6]

–  Luận về chữ Tín:Tín là sự củng cố của Đức. Chữ Tín làm chủ hành Đạo Ngũ luân. Người mà vô Tín thì không thể làm việc gì thành đạt. Sở dĩ ta tốt lên, chẳng phải nhờ bạn giúp thì còn nhờ ai? Thế mà nay: xảo trá ngày một tăng, trung tín ngày một nhạt, tham lận dối lừa, kết bè, kết đảng… Đạo bạn bè còn như vậy. Huống hồ đối với phận làm con, làm tôi. Tín mà không giữ thì Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí đều không chân thực. Đạo Người ngày một tiêu ma. Hãy lấy đức Tín để hoàn thiện con người…”.[7]

Cũng tại Thiên Lý Đàn, Tuất thời 15.07 Ất Tỵ (11-8-65) Dức Thánh Trần giáng bút như sau:

Trần ai đã rủ áo công hầu,

Hưng nghiệp còn chờ kẻ đến sau;

Đạo đức chấn hưng giềng mối cả,

Giáng mừng liệt vị một vài câu.

“ Bản Thánh chào chư Thiên Mạng, chào chư hiền đệ, hiền muội. Bản Thánh đã được dời đến Cung Văn Tuyên để hầu tiên sư Khổng Tử. Nhơn đó, Tiên Sư có lời dạy Bản Thánh: Vì sự thỉnh nguyện của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý cũng như sự đồng ý của Khổng Học môn đệ, nên Tiên Sư chấp thuận cho Bản Thánh giúp chư hiền đệ Khổng Học một đôi liển và Tiên Sư đã cắt nghĩa rằng :

Đạo tuy ba phái, nhưng lý vẫn một nguồn, đều do khí hạo nhiên huyền huyền Thượng Đế phát ban, mà Đức Lão Quân tạm gọi là Tam Giáo Đạo, để áp dụng sự cứu cánh toàn cả nhân loại trên thế gian, trong khi tinh thần vật chất bị đảo lộn. Vì thế nên Bản Thánh là dân tộc Việt Nam, mà tất cả môn đệ Khổng Học hiện hữu cũng là dân tộc Việt Nam, tất nhiên phải thụ hưởng cái tinh ba của Tam Giáo để nâng cao tinh thần dân tộc, tiến hóa trên một trình độ đại đồng, không còn chấp chỗ riêng biệt như từ xưa hay hiện giờ, đang ở vào trạng huống đau thương là cõng rắn cắn gà nhà, do nơi sự thấp kém của dân tộc mà ra. Tuy Bản Thánh giáng đây, trên đã có Phù Sắc Khổng Thánh chứng minh, vậy Hoàng, Nam, Hùng hãy đem đôi liễn nầy về suy kỷ lời Bản Thánh trong khi thành tâm đưa vào Khổng Thánh Miếu.

“Thuật Ngiêu Thuấn vũ trang trung đạo cổ kim duy nhứt quán

Hưng Lý, Trần Lê Nguyễn Xuân Thu cương kỷ định thiên thu”

Thì giờ đã hết, Bản Thánh hẹn lại khi sau sẽ hội ngộ. Chư hiền đệ muội thành tâm đánh ba hồi chuông lễ bái đưa Phù Sắc Tiên Sư, để Bản Thánh…(Hãy đứng lên và hành lễ) chào chung tất cả, chúc câu thành ý chánh tâm. Bản Thánh lui gót.”

Chỉ đọc lướt áng văn Hưng Đạo Vương giáng bút qua người phụng thảo thời Nguyễn như vậy, ta bỗng nhận được hào quang tư tưởng của Ngài tỏa sáng, thức tỉnh nhân tâm. Đưa ta về với thời kỳ oanh liệt của ngài, cái thời giặc Thát phải kinh, giặc Phạm Nhan phải khuất phục. Qua những gì đã phân tích ở trên ta thấy được đối với Đức Thánh Trần chữ Đạo là tam giáo được đúc kết mà thành, khi sống đức Thánh lấy Đạo làm chọn nghĩa Vua Tôi, khi thác Đức Thánh lại hiển linh vì Đạo linh ở trời và tụ ở muôn dân, nó vẫn toả ra hàng ngày nhật dụng. Với hai lời Giáng bút chúng ta có thể hiểu cái Đạo của một vị thánh nó cao cả và nó cũng chẳng ở đâu xa, nó ở ngay trong chúng ta, trong từng người dân đang sống trên đất nước Việt Nam.

                        

Nguyễn Sỹ Đông (Ban quản lý di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc)

Tài Liệu Tham Khảo

[1] Thiên Lý Đàn, Tuất thời mùng 10 tháng 04 Ất Tỵ (10.5.1965)

[2]….[7] Hưng Đạo Vương Giáng Bút ( tg: Mai Thục )

Chia sẻ bài viết

Bài viết cùng chuyên mục

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Thống kê truy cập

Tổng truy cập: 138067

Đang online: 13

error: Content is protected !!